Quyền con người là quyền tự nhiên hay do pháp luật ghi nhận? Đặc trưng của quyền con người là gì?

Quyen Con Nguoi

Quyền con người đã được Luật Minh Khuê nghiên cứu và phân tích ở rất nhiều bài viết. Nội dung bài viết này sẽ gửi đến bạn đọc về tính tự nhiên hay pháp định của quyền con người? Đặc trưng của quyền con người là gì? Và quyền con người được hình thành và phát triển từ bao giờ?

Thưa luật sư, quyền con người là tự nhiên vốn có hay là do pháp luật ghi nhận? Quyền con người có những đặc trưng như thế nào? Quyền con người được hình thành từ bao giờ và phát triển như thế nào? Rất mong nhận được hồi đáp từ luật sư. Tôi xin chân thành cảm ơn!
Người gửi: Nông Trang – Phú Thọ

Câu hỏi được biên tập từ chuyên mục tư vấn luật Dân sự của Công ty luật Tuyên Thuỵ

>> Luật sư tư vấn pháp luật Dân sự, gọi: 0277.3.869.777

Trả lời:

Chào bạn, cảm ơn bạn đã tin tưởng và gửi câu hỏi đề nghị tư vấn luật đến Bộ phận luật sư tư vấn pháp luật của Công ty Luật Minh Khuê. Nội dung câu hỏi của bạn đã được đội ngũ luật sư của Chúng tôi nghiên cứu và tư vấn cụ thể như sau:

1. Cơ sở pháp lý:

– Hiến pháp năm 2013

2. Quyền con người là gì?

Quyền con người thường được hiểu là những nhu cầu, lợi ích tự nhiên, vốn có và khách quan của con người được ghi nhận và bảo vệ trong pháp luật quốc gia và các thỏa thuận pháp lý quốc tế.

3. Quyền con người có nguồn gốc tự nhiên hay đo pháp luật quy định?

Về vấn đề này, có hai trường phái trái ngược nhau.

Những người theo học thuyết về quyền tự nhiên (natural rights) – mà tiêu biểu là các tác giả như Zeno (333-264 TCN), Thomas Hobbes (1588-1679), John Locke (1632- 1704), Thomas Fame (1731-1809)… cho rằng nhân quyền là những gì bẩm sinh, vốn có mà mọi cá nhân sinh ra đều được hưởng, chỉ đơn giản bởi họ là thành viên của gia đình nhân loại. Do đó, các quyền con người không phụ thuộc vào phong tục, tập quán, truyền thống văn hóa hay ý chí của bất cứ cá nhân, giai cấp, tầng lớp, tổ chức, cộng đồng hay nhà nước nào. Cũng do đó, không một chủ thể nào, kể cả các nhà nước, có thể ban phát hay tùy tiện tước bỏ các quyền con người.

Ngược lại, những người theo học thuyết về các quyền pháp lý (legal rights’) – mà tiêu biểu là các tác giả như Edmund Burke (1729-1797), Jeremy Bentham (1748-1832)… cho rằng các quyền con người không phải là những gì bẩm sinh, vốn có một cách tự nhiên mà phải do các nhà nước quy định trong pháp luật. Như vậy, theo học thuyết này, phạm vi, giới hạn và ở góc độ nhất định, cả thời hạn hiệu lực của các quyền con người phụ thuộc vào ý chí của tầng lớp thống trị và những yếu tố như phong tục, tập quán, truyền thống văn hóa… của từng xã hội.

Cho đến nay, cuộc tranh luận về tính đúng đắn của hai học thuyết kể trên vẫn còn tiếp tục. Việc phân định tính chất đúng, sai, hợp lý và không hợp lý của hai học thuyết này là không đơn giản do chúng liên quan đến một phạm vi rộng lớn các vấn đề triết học, chính trị, xã hội, đạo đức, pháp lý… Mặc dù vậy, dường như quan điểm cực đoan phủ nhận hoàn toàn bất cứ học thuyết nào đều không phù hợp, bởi lẽ trong khi về hình thức, hầu hết các văn kiện pháp luật của các quốc gia đều thể hiện các quyền con người là các quyền pháp lý, thì trong Tuyên ngôn toàn thế giói về nhân quyền năm 1948, một số văn kiện pháp luật và văn kiện chính trị pháp lý ở một số quốc gia, nhân quyền được khẳng định một cách rõ ràng là các quyền tự nhiên, vốn có và không thể chuyển nhượng được của các cá nhân.

Những giá trị tự nhiên, vốn có của mọi cá nhân, được pháp luật (quốc gia, quốc tế, khu vực) ghi nhận và bảo vệ

4. Quyền con người có những đặc trưng gì?

Nhận thức phổ biến của cộng đồng quốc tế cho rằng, quyền con người có những đặc trưng (hay còn gọi là tính chất) cơ bản sau đây:

Tính phổ biến (universal): Thể hiện ở chỗ quyền con người là những gì bẩm sinh, vốn có của con người và được áp dụng bình đẳng cho tất cả mọi thành viên trong gia đình nhân loại, không có sự phân biệt đối xử vì bất cứ lý do gì. Tuy nhiên, cần chú ý là sự bình đẳng không có nghĩa là cào bằng mức độ hưởng thụ, mà là bình đẳng vê tư cách chủ thê’và cơ hội thụ hưởng cấc quỳên con người.

Tính không thể chuyển nhượng (inalienable): Thể hiện ở chỗ các quyền con người không thể bị tước bỏ hay hạn chế một cách tùy tiện bởi bất cứ chủ thể nào, kể cả bởi nhà nước. Mọi giới hạn, hạn chế hay tước bỏ quyền của một cá nhân đều phải do pháp luật quy định và chỉ nhằm để bảo vệ lợi ích chính đáng, tương xứng của cộng đồng hay của cá nhân khác.

Tính không thể phân chia (indivisible): Thể hiện ở chỗ các quyền con người đều có tầm quan trọng như nhau, về nguyên tắc không có quyền nào được coi là có giá trị cao hơn quyền nào, bởi lẽ việc tước bỏ hay hạn chế bất kỳ quyền nào đều tác động tiêu cực đến nhân phẩm, giá trị và sự phát triển của con người.

Tuy nhiên, tùy bối cảnh và với những đối tượng cụ thệ, có thể ưu tiên thực hiện một số quyền con người nhất định (ví dụ, khi có dịch bệnh đe dọa, quyền được ưu tiên thực hiện là quyền được chăm sóc y tế, hoặc cần có những quyền đặc biệt cho do phụ nữ, trẻ em, người khuyết tật, người thiểu số… do đây là những nhóm yếu thề). Điều này không có nghĩa là bởi các quyền được ưu tiên thực hiện có giá trị cao hơn, mà bởi vì các quyền đó trong thực tế có nguy cơ bị đe dọa hoặc bị vi phạm nhiều hơn so với các quyền khác.

Tính liên hệ và phụ thuộc lẫn nhau (interrelated, interdependent): Thể hiện ở chỗ việc bảo đảm các quyền con người, toàn bộ hoặc một phần, nằm trong mối liên hệ phụ thuộc và tác động lẫn nhau. Sự vi phạm một quyền sẽ trực tiếp hoặc gián tiếp gây ảnh hưởng tiêu cực đến việc bảo đảm các quyền khác, và ngược lại, tiến bộ trong việc bảo đảm một quyền sẽ trực tiếp hoặc gián tiếp tác động tích cực đến việc bảo đảm các quyền khác.

Phổ biến Không thể phân chia Không thể chuyển nhượng Liên hệ phụ thuộc lẫn nhau
Quyền con ngưòi là tự nhiên, vốn có. Mọi thành viên của nhân loại đều là chù thể của các quyền con người. Mọi quyền con người đều có giá trị như nhau và đều cần phải được tôn trọng. bảo đảm, thực hiện. Các quyền con người không thể bị tước bỏ hay hạn chế một cách tùy tiện bởi bất cứ chủ thể nào. Bất kỳ quyền con người nào được bảo đảm hay bị vi phạm đều tác động tích cực hay tiêu cực đến các quyền khác

5. Tư tưởng của nhân loại về quyền con người được hình thành từ bao giờ và phát triển như thế nào?

Theo một số học giả, những tư tưởng về quyền con người đã xuất hiện từ thời tiền sử, thể hiện trong các luật lệ của chiến tranh. Tuy nhiên, ở trình độ phát triển của thời tiền sử, có lẽ con người mới chỉ có những ý niệm, chứ chưa thể có những tư tưởng (với ý nghĩa là những quan điểm hoặc hệ thống quan điểm rõ ràng về một sự vật, hiện tượng nhất định) về quyền con người. Bởi vậy, tư tưởng về quyền con người có thể chỉ được khởi thủy cùng với sự xuất hiện của những nền văn minh cổ đại.

Các nhà nghiên cứu thường trích dẫn những bộ luật cổ ban hành qua các thời kỳ ở nhiều quốc gia, khu vực khác nhau để phân tích sự phát triển của tư tưởng nhân quyền trong lịch sử nhân loại. Những bộ luật tiêu biểu hay được trích dẫn bao gồm Bộ luật Hammurabi (khoảng năm 1780 TCN); Bộ luật của vua Cyrus Đại đế (khoảng năm 576-529 TCN); Bộ luật của vua Ashoka (Ashoka’s Edicts, khoảng năm 272-231); Hiến pháp Medina (The Constitution of Medina, do nhà tiên tri Muhammad sáng lập vào năm 622); Đại Hiến chưong Magna Carta (năm 1215); Bộ luật về quyền (năm 1689) của nước Anh; Tuyên ngôn về Nhân quyền và Dân quyền (năm 1789) của nước Pháp; Tuyên ngôn Độc lập (năm 1776) và Bộ luật về các quyền (1789) của nước Mỹ… Bộ luật Hồng Đức (Quốc Triều Hình Luật, 1470-1497) của Việt Nam cũng xứng đáng được xếp vào danh sách những bộ luật cổ tiêu biểu của thế giới khi nghiên cứu về quyền con người.

Bên cạnh đó, tư tưởng về quyền con người còn được phản ánh trong các học thuyết ấn phẩm tôn giáo, chính trị và pháp lý của nhân loại từ xưa đến nay. Những tài liệu được cho là cổ xưa nhất xét về tư tưởng quyền con người của nhân loại bao gồm: Văn tuyển Nho giáo (Luận ngữ), Kinh Vệ Đà của đạo Hin-đu, Kinh Phật của đạo Phật, Kinh Thánh của đạo Thiên chúa, Kinh Kô-ran của đạo Hồi… Ở mức độ và từ những góc độ khác nhau, các tài liệu này đã phản ánh những quan điểm có tính hệ thống của nhân loại về nhân phẩm, tự do, bình đẳng, bác ái và cách thức bảo vệ, khuyếch trương những giá trị cao quý đó.

Các tư tưởng, lý thuyết hiện đại về nhân quyền đã được manh nha ở châu Âu ngay từ thời kỳ Trưng cô’ và phát triển một cách rực rỡ trong thời kỳ Phục hưng, với những học giả vĩ đại như Thomas Hobbes (1588-1679), John Locke (1632-1704), Thomas Paine (1731-1809), Georg Wilhelm Friedrich Hegel (1770-1831), John Stuart Mill (1806-1873), Henry David Thoreau (1817-1862)… Tác phẩm của những nhà tư tưởng này đã xác định nhiều vấn đề lý luận cơ bản về quyền tự nhiên và quyền pháp lý của con người mà vẫn còn có ý nghĩa quan trọng với việc bảo vệ và thúc đây nhân quyền trong thời đại ngày nay. Tuy nhiên, trước hết, tư tưởng của các tác giả này đã thúc đẩy sự ra đời của những văn bản pháp luật về quyền con người ở các nước châu Âu trong thời kỳ đó, bao gồm hai bản Tuyên ngôn nổi tiếng được thông qua trong hai cuộc cách mạng ở Mỹ và Pháp vào những năm 1700 mà đã có ảnh hưởng rất to lớn đến quá trình pháp điển hóa các quyền con người không chỉ ở hai nước này mà còn trên toàn thế giói.

Từ đầu thế kỷ XIX, quyền con người dần nổi lên như một vấn đề ở tầm quốc tế và bắt đầu được đề cập trong pháp luật quốc tế, nhờ những nỗ lực của nhiều chủ thể, đặc biệt là các tổ chức như Hội Chữ thập đỏ – Trăng lưỡi liềm đỏ quốc tế, Hội Quốc liên và Tổ chức Lao động quốc tế. Tuy nhiên, chỉ với sự ra đời của Liên Hợp Quốc (1945), những tư tưởng về nhân quyền của nhân loại mới được thể chế hóa một cách mạnh mẽ, toàn diện và có tính hệ thống vào pháp luật và đời sống chính trị quốc tế. Ở thời điểm hiện nay, nhân quyền là một trong những khái niệm được đề cập, chấp nhận và cổ vũ một cách rộng khắp, thường xuyên và nồng nhiệt nhất trong đời sống nhân loại.

Trên đây là tư vấn của chúng tôi. Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ bộ phận tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài điện thoại số: 0277.3869.777 để được giải đáp.

Rất mong nhận được sự hợp tác!

Trân trọng./.

Luật Tuyên Thuỵ – Biên tập

Câu hỏi thường gặp về quyền con người

Câu hỏi: Vì sao nói quyền con người có tính phổ biến?

Trả lời:

Vì quyền con người là tự nhiên, vốn có. Mọi thành viên của nhân loại đều là chù thể của các quyền con người.

Câu hỏi: Quyền con người có những đặc trưng cơ bản nào?

Trả lời:

– Tính phổ biến

– Tính không thể phân chia

– Tính không thể chuyển nhượng

– Liên hệ, phụ thuộc lẫn nhau

Câu hỏi: Quyền con người và Nhân quyền có phải là một không?

Trả lời:

Trong thực tế ở Việt Nam, bên cạnh thuật ngữ “quyền con người”, cố một thuật ngữ khác cũng được sử dụng, đó là “nhân quyền”. Cả hai thuật ngữ này đều bắt nguồn từ thuật ngữ human rights. Từ human rights trong tiếng Anh có thể được dịch là quyền con người (thuần Việt) hoặc nhân quỳên (Hán – Việt). Theo Đại Từ điển Tiếng Việt, “nhân quyền” chính là “quyền con người”. Như vậy, xét về mặt ngôn ngữ học, quyền con người và nhân quyền là hai từ đồng nghĩa, do đó, hoàn toàn có thể sử dụng cả hai từ này trong nghiên cứu, giảng dạy và hoạt động thực tiễn về nhân quyền.

Rate this post
0 0 đánh giá
Article Rating
Theo dõi
Thông báo của
guest
0 Comments
Phản hồi nội tuyến
Xem tất cả bình luận
0
Rất thích suy nghĩ của bạn, hãy bình luận.x
.
.
.
.